Truyền thuyết và ý nghĩa đặc biệt của hoa bỉ ngạn
1 Hoa bỉ ngạn là gì?
Nguồn gốc, ý nghĩa hoa bỉ ngạn
Bên cạnh tên khoa học là Lycoris Radiata (hay Spider Lily), hoa bỉ ngạn còn được nhiều người biết đến với tên gọi khác như: Long Trảo Hoa, Mạn Châu Sa Hoa, Hồng Hoa Thạch Toán,... Do có xuất xứ từ Trung Quốc và Nhật Bản nên chúng thường được hiện diện trong các bài hát, lời thơ và cả phim truyện của hai nước này.
Hoa bỉ ngạn có nguồn gốc từ Trung Quốc và Nhật Bản
Ở mỗi quốc gia khác nhau thì ý nghĩa về loại hoa bỉ ngạn cũng khác nhau. Ví dụ như với Nhật Bản, đây là loài hoa biểu trưng cho hồi ức buồn đau, tuyệt vọng. Hay ở Triều Tiên, đóa hoa đã khắc họa sự nhung nhớ về nửa kia. Còn Trung Quốc, khi nhắc đến hoa bỉ ngạn thì cũng như nhắc về sự phân ly, chia lìa.
Nhìn chung, hoa bỉ ngạn thường mang đến ý nghĩa chia ly, u buồn, không may mắn hay biểu thị sự chết chóc, tan thương. Đồng thời, chúng còn gửi gắm đến mọi người rằng ái tình chỉ là ảo mộng, duyên hết thì tình đứt, trả hết nợ một đời thì không nên luyến tiếc để rồi thêm đau khổ.
Bỉ ngạn là loài hoa có độc (trong củ có độc) nên người đời thường ví tình ái cũng tựa độc dược, càng đắm chìm đó thì càng khổ đau, day dứt.
Truyền thuyết về hoa bỉ ngạn
Ngày xưa, Mạn Châu và Sa Hoa vốn là một đôi, song lại không thể gặp gỡ và yêu nhau do luật trời đã định. Vì quá thương nhớ đối phương nên cả hai đã trái luật trời, tìm về bên nhau và thề nguyện chẳng bao giờ lìa xa. Cũng vì điều này mà họ đã bị đày xuống trần gian, rồi trở thành hoa và lá của cùng một loài cây.
Theo truyền thuyết, hoa bỉ ngạn là chuyển kiếp của cặp đôi Mạn Châu và Sa Hoa
Cây này sở hữu một nét đẹp kiêu sa nhưng lại chất chứa nhiều nỗi u buồn. Đặc biệt, khi hoa nở thì lá không mọc nữa cũng như khi lá phát triển thì hoa lại chẳng xuất hiện bao giờ. Việc hoa và lá không gặp nhau cũng giống như sự trừng phạt dành cho Mạn Châu và Sa Hoa, khiến họ mãi chia tách nhau.
Bỗng một hôm, Đức Phật vô tình phát hiện loại hoa có sắc đỏ rực rỡ cả một vùng, vừa thể hiện sự nhung nhớ, vừa ẩn chứa bao u sầu. Hiểu được huyền cơ trong đó, Đức Phật đã động lòng xót thương và đem chúng về nơi Cực Lạc.
Hoa bỉ ngạn đỏ rực bên dòng Vong Xuyên
Vốn là miền Phật quốc, là chốn thanh tịnh, loài hoa này đành phải rũ bỏ các cảm xúc u buồn, nhớ thương,... ở lại trần gian. Để rồi những cảm xúc ấy kết thành một sắc đỏ rực rơi xuống sông Vong Xuyên.
Lúc này, Bồ Tát Địa Tạng đã gieo xuống hạt giống để chúng trở thành đóa hoa đỏ tươi bay lên khỏi mặt nước. Cũng từ đó, loài hoa đỏ này được gọi là Mạn Châu Sa Hoa có nhiệm vụ làm sứ giả dẫn các linh hồn đi về phía luân hồi.
Còn những đoá hoa ở cùng Đức Phật chốn Cực Lạc thì hóa thành sắc trắng tinh khiết, không nhuốm bụi trần. Chúng được gọi là Mạn Đà La Hoa – hoa của cõi Phật. Đây cũng là một tên gọi khác của hoa bỉ ngạn.
Từ đó, hoa bỉ ngạn có 2 màu sắc chính, một là hoa trắng tinh khiết tượng trưng cho sự vô dục vô cầu, vô bi vô khổ. Màu còn lại là đóa hoa đỏ rực gợi nhớ sự chia ly, u buồn.
Đặc điểm, phân loại hoa bỉ ngạn
Đặc điểm hoa bỉ ngạn
Vốn là cây thân thảo lâu năm thuộc họ Amaryllidaceae, hoa bỉ ngạn nổi bật khi có chiều cao trung bình đến 40 – 100cm. Chúng thường phát triển ở các bờ ruộng, ven đường, triền đồi và cả những khu nghĩa địa. Đặc biệt, củ của bỉ ngạn rất nguy hiểm bởi có lycorine – chất độc thuộc nhóm ancaloit có thể tác động xấu đến hệ thần kinh.
Đặc điểm, phân loại hoa bỉ ngạn
Điểm đặc sắc nhất của bỉ ngạn chính là hoa mọc thành chùm độc đáo. Với cánh hoa vươn dài có 5 - 7 nụ, khi nở sẽ xòe ra nhiều hướng như thể đón lấy mọi tinh túy của đất trời. Điều thú vị của chúng còn ở chỗ khi cây ra hoa thì sẽ không có lá, có lá thì lại không nở hoa. Do đó, hoa và lá của chúng muôn đời cũng chẳng gặp được nhau.
Phân loại hoa bỉ ngạn
Hiện nay, hoa bỉ ngạn có 5 màu là chủ yếu đó là màu đỏ, trắng, hồng, vàng và tím.
Hoa bỉ ngạn đỏ
Với sắc đỏ rực nổi bật cả một góc vùng, hoa bỉ ngạn đỏ chính là loại phổ biến nhất trong tất cả các màu. Ẩn sâu trong sắc hoa tươi thắm ấy lại là ý nghĩa của sự chia ly, nỗi u buồn vì tình yêu bị chia cách.
Hoa bỉ ngạn trắng
Hoa bỉ ngạn trắng
Đóa hoa bỉ ngạn trắng sở hữu một nét đẹp thanh khiết, tao nhã, không vướng bụi trần. Khác với bỉ ngạn đỏ mang nhiều nỗi đau thương, bỉ ngạn trắng chỉ là hồi ức về một tình yêu thuần khiết.
Hoa bỉ ngạn hồng
Hoa bỉ ngạn hồng
Hoa bỉ ngạn hồng tượng trưng cho tình yêu, vẻ đẹp nữ tính và một niềm đam mê mãnh liệt.
Hoa bỉ ngạn vàng
Hoa bỉ ngạn vàng
Rực rỡ chẳng kém gì hoa bỉ ngạn đỏ, bỉ ngạn vàng đã khoác lên mình tông vàng ấm áp tựa như ánh mặt trời. Ấy thế mà nó cũng gợi đến sự chia ly mãi mãi, chẳng thể nhìn thấy đối phương, nhưng ẩn sâu nơi con tim vẫn có bóng hình người kia.
Hoa bỉ ngạn tím
Hoa bỉ ngạn tím
Hoa bỉ ngạn tím đã khiến bao người đắm say bởi mang một sắc màu thủy chung, dù khổ đau đến mấy thì tình yêu vẫn luôn vẹn tròn, thuần khiết như thuở ban đầu. Ngoài ra, chúng còn tượng trưng cho việc sau bao ngày chia xa thì bạn cũng sẽ đoàn tụ với nửa kia.
Bên cạnh đó, nhiều người thường nhắc tới loại hoa bỉ ngạn xanh, tuy nhiên hoa bỉ ngạn xanh không có thật. Màu hoa bỉ ngạn xanh xuất hiện trong bộ truyện tranh anime Nhật Bản – Kimetsu (tên đầy đủ là Kimetsu No Yaiba). Theo đó, hoa bỉ ngạn xanh có tác dụng cứu nhân vật Muzan khỏi căn bệnh nguy hiểm.
Hoa bỉ ngạn xanh không có thật
2 Tác dụng của hoa bỉ ngạn
Một số nhà nghiên cứu cho thấy hoa bỉ ngạn được dùng để xua đuổi chuột và một số loại côn trùng khác. Bên cạnh đó, cây bỉ ngạn còn có khả năng hỗ trợ giảm đau thấp khớp, phù nề và giảm các nốt mụn sưng tấy trên cơ thể.
Tác dụng của hoa bỉ ngạn
Ngoài ra, củ hoa bỉ ngạn còn được các chuyên gia y học cổ truyền Trung Quốc nghiên cứu có tác dụng hỗ trợ giảm đau, tiêm viêm. Tuy nhiên, củ của bỉ ngạn rất nguy hiểm do chứa chất độc nên người dân không được sử dụng tùy tiện.